Với bài viết này, tôi muốn nói đến giáo sư Nguyễn Sinh Huy người mà tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn bó nhiều năm với nhiệm vụ đào tạo hàng trăm kỹ sư thủy lợi, và với nhiều công trình khoa học nổi tiếng về những ý tưởng táo bạo và đã mang lại cho đất nước những hiệu quả kinh tế, xã hội to lớn.
Trong suốt 35 năm liên tục công tác tại trường Đại học Thủy lợi, ông đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn tốt nghiệp cho 31 khoá sinh viên các ngành thủy văn, thủy công, thủy nông và thi công công trình. Ông đã chủ trì 14 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và tham gia hai đề tài khác; chủ trì 31 đề tài cấp Bộ, cấp Tỉnh…trong đó hầu hết các đề tài đều nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Ông cũng là tác giả và đồng tác giả của 14 xuất bản phẩm bao gồm giáo trình, tiêu chuẩn, quy trình, tổng kết và hướng dẫn kỹ thuật, cẩm nang, từ điển chuyên ngành...
Trong lúc này, khi đã ở tuổi 76 ông vẫn còn đang bộn bề với nhiều công việc và nhất là từ cuối năm 2007, ông được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn giao chủ trì một dự án lớn: Xây dựng bản “Quy hoạch các giải pháp chống úng ngập cho thành phố Hồ Chí Minh”, vốn là người kín đáo và khiêm tốn, ông không muốn nói về mình. May cho tôi, khi trở về Hà Nội tôi gặp được một người bạn cùng học và một số học trò của ông và những câu chuyện về ông lại có dịp được tiếp tục.
Giáo sư Nguyễn Sinh Huy quê ở xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh sinh ra trong một gia đình viên chức. Cụ thân sinh ông dạy học tại trường tiểu học quê nhà trong thời Pháp thuộc, sớm tham gia hoạt động cách mạng và trở thành cán bộ chính quyền khi nước nhà độc lập. Năm 1950, sau khi học xong trung học phổ thông, anh Huy gia nhập Đoàn Thanh niên Cứu quốc và chuyên trách công tác Đoàn tại địa phương. Năm 1953 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết định, anh gia nhập thanh niên xung phong phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau khi hoà bình được lập lại trên miền Bắc, đầu năm 1955 anh được lựa chọn để sang Liên Xô và được phân công học tập tại trường Đại học Khí tượng – Thủy văn Ôđetxa thuộc nước Cộng hoà Ukraina. Khác với nhiều sinh viên cùng thời, khi đi học anh đã là cán bộ trong biên chế của Nhà nước, là Bí thư chi đoàn của nhóm thanh niên học tại Ôđetxa. Do vậy, anh luôn xác định cho mình một động cơ học tập đúng đắn, dồn hết thời gian và trí tuệ cho việc tiếp thụ kiến thức. Tuy là sinh viên nước ngoài, không thành thạo tiếng Nga như nhiều bạn học cùng lớp nhưng anh luôn là sinh viên giỏi. Ngoài chuyên môn chính là ngành thủy văn, với lòng say mê của tuổi trẻ, anh còn quan tâm và nghiên cứu về những ngành liên quan như thủy lợi, thủy điện, thủy lực, thổ nhưỡng, cân bằng nước và những chuyên ngành phục vụ nghiên cứu bầu khí quyển như vệ tinh, tên lửa, hàng không, viễn thám, khí hậu… các sinh viên cùng lớp quý mến anh như người bạn, người anh bởi tính trung thực, hiền lành, sẵn sàng giúp đỡ mọi người … Sau 5 năm mải miết học tập, học kỳ cuối cùng trôi đi rất nhanh, anh cũng như các bạn sinh viên Việt Nam khác dồn hết mọi thời gian cho việc làm luận văn tốt nghiệp, mong sớm hoàn thành nhiệm vụ để trở về quê hương phục vụ đất nước. Khi bảo vệ anh đã được Hội đồng chấm thi trao bằng kỹ sư loại xuất sắc nhưng một việc mà anh không ngờ đã xảy ra, tạo ra cho cuộc đời anh một bước ngoặt lớn.
Mối tình sóng gió
Có một người luôn quan tâm, luôn tìm cơ hội để trò chuyện với anh, quan tâm đến cuộc sống và những khó khăn của các bạn Việt Nam, một cán bộ Đoàn trẻ, xinh đẹp, vui vẻ và luôn nhiệt tình giúp đỡ bạn bè. Cô gái ấy là Laritsa Furman, bí thư Đoàn thanh niên Côm sô môn. Cô kém anh bảy tuổi, người được Nhà trường phân công phụ trách giúp đỡ các bạn sinh viên nước ngoài, cô gái mà anh quý mến, tôn trọng và luôn giữ một tình cảm trong sáng. Lý trí đã luôn nhắc nhở và anh cương quyết gạt tình cảm riêng tư sang một bên để học tập. Trong chuyến đi cắm trại cuối cùng của lớp, Laritsa đã thổ lộ tình yêu của cô dành cho anh. Nhưng ngày ấy việc một sinh viên Việt Nam yêu một người nước ngoài là chuyện “động trời” chắc chắn sẽ bị kỷ luật và có thể bị đưa về nước như một người phạm tội, bởi có những quy định rất chặt chẽ đối với sinh viên. Là chàng trai được một cô gái trẻ kém bảy tuổi, xinh đẹp, hoa khôi của lớp nặng lòng yêu quý nhưng anh lại cảm thấy bối rối như mình phạm lỗi bị bắt quả tang và suy nghĩ để tìm cách thoát ra khỏi tình yêu của cô gái mạnh mẽ và đầy cá tính này. Còn Laritsa thì đau khổ, không có cách nào để níu kéo được người con trai mà cô hết lòng yêu quý đến với mình, mới chỉ một tuần sau khi nghe anh từ chối mà cô gái đã như một người xa lạ, mối tình đầu thất bại, cô bỏ ăn, hầu như không ngủ, suy sụp cả về sức khoẻ và tinh thần, không muốn giao tiếp với bất kỳ ai. Gia đình cô lo lắng tìm gặp nhà trường và cầu cứu Huy. Đứng trước tình yêu của người con gái Xô-viết, sẵn sàng từ bỏ gia đình, quê hương, đất nước với cuộc sống đầy đủ để theo anh về một đất nước xa lạ, nghèo nàn, làm cho anh cảm động. Điều quan trọng nhất lúc này là phải cứu lấy Laritsa, chấp nhận tình yêu của nàng cũng đồng nghĩa với việc phải chịu nhiều hy sinh và anh sẵn sàng chấp nhận bất cứ kỷ luật nào của tổ chức. Thời gian anh phải về nước chỉ còn không quá 72 giờ, đôi trai gái đang yêu tận hưởng những ngày bên nhau. Theo phong tục của người dân thành phố Ô-đet-xa, Laritsa dẫn anh ra bờ biển Đen, cầm tay nhau ném những đồng Kopex xuống biển, thề trước trời và biển, từ nay họ nguyện yêu nhau suốt đời và xin trời và biển phù hộ để họ có một đứa con làm sợi dây gắn kết hai ngưòi trong những ngày xa cách.
Vào một ngày đầu thu năm 1962, anh Huy lên tàu trở về đất nước, hòm hành lý chỉ có một chiếc va ly nhỏ, còn một hòm trên 350 kg với hơn 1.000 cuốn sách đủ các chuyên ngành được gửi theo tàu chậm. Lô-ra (tên gọi thân mật của Laritsa) tiễn anh, nhưng không quá buồn và luôn động viên anh, bởi chị tin rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ gặp lại nhau, rằng với tình yêu của mình, họ sẽ vượt qua tất cả để được sống bên nhau. Khi ấy, Lô-ra chưa hình dung được là phải trải qua biết bao gian nan và mãi đến năm năm sau chị và con gái mới trở về đoàn tụ với chồng tại Việt Nam.
Dạy học
Tháng 7/1962 về đến Hà Nội, vào thời điểm vừa tròn 30 tuổi ông được phân công về giảng dạy tại Trường đại học Thủy lợi, lúc này Trường mới thành lập được hơn ba năm, đang được xây dựng trên một vùng đất trũng, nhà trường xen kẽ với công trường, bộn bề vật liệu xây dựng và những con đường nắng bụi, mưa lầy. Cơ sở vật chất hầu như chưa có gì đáng kể, mọi phương tiện phục vụ cho giảng dạy đều thiếu thốn, đối với chuyên ngành thủy văn, ông cũng như các thầy giáo khác phải chuẩn bị từ những bước đầu tiên. Với những kiến thức đã học được ở trường cộng với những tư liệu thu nhận được, ông vừa biên soạn giáo trình vừa giảng dạy các khóa sinh viên thủy lợi đầu tiên. Năm đầu tiên dạy học có nhiều việc phải làm, nhất là một người kỹ tính như ông hầu như phải chuẩn bị nhiều ngày cho một giờ lên lớp. Trong lòng khôn nguôi nỗi nhớ Lô-ra và mong nhận được thư từ nàng, ông gửi thư đi và đợi, phải hơn hai tháng sau ông mới nhận được lá thư từ Lô-ra. Trong thư nàng báo một tin làm ông vui sướng là chị đã mang thai, có lẽ đất, trời và biển cả đã thấu hiểu tình yêu và lời cầu xin của họ. Lô-ra luôn nhắn nhủ ông hãy cố gắng tập trung vào công việc giảng dạy. Nhận được tin vui, ông mừng rơi nước mắt nhưng lại xuất hiện trong ông một nỗi lo mới. Khác với sự lạc quan của Lô-ra, ông hình dung sẽ còn nhiều, rất nhiều khó khăn đến với gia đình ông và ngày đoàn tụ chắc chắn sẽ còn xa vời, nhưng điều đáng buồn là bản thân ông chưa tìm ra cách nào có thể hoá giải được và chỉ còn biết đợi chờ... Ông dồn hết tâm trí vào công việc để quên đi nỗi niềm mong nhớ. Hàng ngày thông thường buổi sáng hoặc buổi chiều lên bục giảng, buổi còn lại phụ đạo cho sinh viên, buổi tối sau bữa ăn chiều ông đến ký túc xá gặp gỡ sinh viên, tìm hiểu về kết quả thu nhận kiến thức của họ, gặp riêng hỏi han, động viên các học sinh yếu kém, giải thích cho họ những chỗ họ chưa hiểu; sau đó về phòng tiếp tục xem lại giáo trình, chuẩn bị giáo án cho buổi lên lớp vào ngày hôm sau. Cuối tuần ông viết thư cho Lô-ra. Ngày tháng trôi đi chầm chậm, đầu tháng tư năm 1963, ông nhận được tin mừng, Lô-ra đã cho ông sinh một cô con gái xinh xắn, dễ thương và như lời ước hẹn chị đặt tên con là Nguyễn Tuyết Mai.
Thầy Huy luôn suy nghĩ về phương pháp giảng dạy, làm sao để sinh viên tiếp thu được kiến thức một cách chủ động, có khả năng tư duy mở rộng, có phương pháp nghiên cứu và phát triển sau khi học và đặc biệt là học lý thuyết gắn với thực tế bằng một công trình hoặc một bài tập gắn với một công việc cụ thể. Đối với thầy, thủy văn là một chuyên ngành gắn liền với những hiện tưọng tự nhiên của trái đất và vũ trụ mà con người chưa hiểu hết được; mặt khác nó lại biến đổi theo không gian và thời gian mà khoa học ngày nay chỉ thể hiểu được quy luật của nó bằng những kinh nghiệm, những công thức gần đúng, do vậy phải luôn có tư duy vận động, thận trọng trong việc thu thập và xử lý dữ liệu. Phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đo đạc và tính toán độc lập, đồng thời sử dụng của các phương pháp nội suy và ngoại suy để có được kết quả đáng tin cậy nhất. Thầy luôn nhắc nhở học sinh của mình: thủy văn là một chuyên ngành hẹp do vậy, khi học phải học thêm các chuyên ngành liên quan và khi ra trường phải tiếp tục học tập, nghiên cứu, tư duy để tạo cho mình có tầm nhìn bao quát, phải biết gắn thủy văn vào các chuyên ngành mà nó phục vụ như thủy lợi, thủy điện, hồ chứa và các hiện tượng do nước gây ra như lũ lụt, xâm thực, sạt lở, bồi lắng ... đặc biệt là ở những nơi có điều kiện địa hình, địa chất phức tạp, chế độ thủy văn, thủy lực ở những nơi dòng chảy hợp lưu, phân lưu, các cửa sông gặp thủy triều và luôn nhớ rằng nước là một nguồn tài nguyên quý giá, phải biết khai thác có hiệu quả cao nhất, nhưng nước cũng có thể gây ra những thiệt hại đáng kể, thậm chí là những thảm họa đối với con người và môi trường.
Ý tưởng của các luận văn tốt nghiệp của các sinh viên do thầy Huy hướng dẫn, thông thường được ông gợi ý cho họ tiến hành khảo sát, tổng hợp từ các đợt đi thực tế tại địa phương hoặc một công trình cụ thể nào đó. Thực tiễn đã chứng tỏ tại mỗi vùng, mỗi công trình lại có một chế độ thủy văn khác nhau phụ thuộc vào những điều kiện riêng, nhưng nó cũng tuân theo một quy luật chung phụ thuộc vào môi trường, đìa hình, khí hậu và những điều kiện tự nhiên khác... Điều này đòi hỏi mỗi sinh viên phải có tư duy độc lập và cần thiết phải vận dụng những nguyên lý cơ bản đã học vào thực tiễn sinh động, muôn mầu muôn vẻ của cuộc sống. Vốn là người nhẹ nhàng, có kiến thức sâu rộng và nhiệt tình trong làm việc và giảng dạy, ông vừa là người thầy, vừa là người anh, người bạn của sinh viên. Sự yêu mến và quý trọng của các sinh viên đối với ông đã làm cho ông giảm bớt nỗi cô đơn trong những ngày xa cách Lô-ra và bé Tuyết Mai, hai người thân yêu của ông đang còn ở phương trời xa thẳm.
Đấu tranh không mệt mỏi vì hạnh phúc gia đình
Sau khi bé Tuyết Mai ra đời, Lô-ra bắt đầu đặt quyết tâm cho việc đoàn tụ gia đình. Chị đã viết đơn thư lên chính quyền địa phương và gửi về Matxcơva để xin phép được trở về Việt Nam. Nhưng vào thời đó việc này đâu có dễ, Ucraina và nước ta khi ấy còn có quá nhiều chênh lệch về điều kiện làm việc, mức sống, về văn hoá và quan hệ xã hội, do vậy Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô đã không cho phép. Nhận được tin không vui, Lô-ra vốn là người luôn nhìn mọi việc một cách lý tưởng đã vô cùng thất vọng.
Hàng ngày, buổi sáng sau khi đưa bé Tuyết Mai đến nhà trẻ, Lô-ra đến cơ quan, hết giờ làm việc buổi chiều, chị ghé vào của hàng thực phẩm mua bánh mỳ, sữa và thức ăn, đến nhà trẻ đón con về nhà và chuẩn bị bữa ăn chiều cho hai mẹ con. Tối, khi con gái đã ngủ, chị lại ngồi viết thư cho chồng và mỗi tuần đều không quên viết thư gửi về Bộ Ngoại giao Liên Xô và Sứ quán Việt Nam để xin cho hai mẹ con được trờ về Việt Nam, hàng trăm lá thư như vậy, không biết đã có bao nhiêu lá được chuyển đến các nhà ngoại giao của hai nước nhưng nguyện vọng của chị vẫn chưa được giải quyết.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, giặc Mỹ leo thang dùng không quân đánh phá miền Bắc, cả nước bước vào cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt. Miền Bắc vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương lớn của cả nước, mọi hy vọng của hai người hầu như phải tạm quên đi vì mọi thời gian, sức người, sức của đều phải tập trung cho cuộc chống Mỹ cứu nước làm sao có thể tính đến nguyện vọng riêng tư. Cuối năm 1966, một dịp may đã đến, trên các báo và đài phát thanh của Ucraina đồng loạt đưa tin chào mừng Đoàn đại biểu Việt Nam đi thăm Ucraina, hành trình của Đoàn có ghé thăm thành phố cảng Ôđetxa, là một trong hai cảng lớn của Liên Xô khi đó vận chuyển hàng hoá và vũ khí giúp Việt Nam. Vào buổi chiều, khi Đoàn đi thăm cảng, Lô-ra dắt con đứng chờ tại cổng Ủy ban xô viết thành phố, nơi đoàn Việt Nam ở và làm việc. Khi đoàn trở về Lô-ra bế con xin vào gặp nhưng các vệ binh đã kịp thời ngăn chặn vì đây là những việc chưa từng có vào thời bấy giờ. Sau hơn ba giờ kiên trì đứng đợi, lúc này đoàn Việt Nam dự xong buổi chiêu đãi của Ủy ban thành phố và chuẩn bị đi nghỉ, một sĩ quan vệ binh thấy hiện tượng lạ nên đã cho mời chị vào để làm rõ tình hình. Mẹ con chị vừa vào chỗ ngồi thì khi nhìn qua cửa sổ thấy có ba, bốn người Việt Nam đang đi dạo ngoài vườn, Lô-ra liền bế con chạy vụt ra vườn. Lập tức hàng chục vệ binh đuổi theo và vây quanh chị nhưng chị đã kịp rút ở túi ra và đưa cho một cán bộ của Việt Nam một bức thư. Nhưng khi đọc lá thư của Lô-ra mọi người đã hiểu tình cảnh của chị là hơn 4 năm qua chị đã rất nhiều lần làm đơn xin về Việt Nam nhưng không được chấp nhận, bắt buộc chị phải dùng cách liều lĩnh này. Sự việc đã nhanh chóng được giải quyết, lá thư được đưa lại cho đoàn Việt Nam và mẹ con Lô-ra được đưa về nhà. Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam trong chuyến đi thăm Ucraina lần đó là ông Tôn Quang Phiệt, khi ấy là Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Câu chuyện trên được ông Tôn Quang Phiệt báo cáo lại với thủ tướng Phạm Văn Đồng và đích thân Thủ tướng có ý kiến với Sứ quán Việt Nam tại Liên Xô cho phép để hai mẹ con họ sang Việt Nam và coi như một trường hợp đặc biệt. Thế là vào mùa thu năm 1967, Lô-ra cùng con gái Tuyết Mai được về Hà Nội.
Năm 1970, ông bà sinh cô con gái thứ hai Nguyễn Quỳnh An. Có thêm một thành viên mới, gia đình thêm niềm vui nhưng cũng xuất hiện nhiều khó khăn mới, nhất là cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng leo thang ác liệt. Các trường đại học bắt đầu sơ tán khỏi Hà Nội, gia đình ông Huy theo Trường đại học Thủy lợi lên tận Mai Siêu, tỉnh Bắc Giang, ở nhờ một gia đình nông dân địa phương. Thiếu thức ăn cho các con, nhất là Tuyết Mai quen uống sữa, nay phải thay bằng cơm gạo nhiều lần cô bé bị đau bụng và ốm yếu. Một nách hai con nhỏ, mỗi lần nấu ăn phải nhóm bếp củi, khói vào mắt cay sè nhưng Lô-ra vẫn hết lòng chăm sóc các con và tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng của đất nước Việt Nam, quê hương thứ hai của bà. Sau ngày hiệp định Paris được ký kết tháng 1 năm 1973, gia đình trở về Hà Nội, cô giáo Lô-ra được điều về dạy tiếng Nga tại trường đại học Ngoại thương. Với tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong giảng dạy, sinh viên rất yêu quý và tôn trọng bà, do vậy Lô-ra thường theo lớp từ năm đầu tiên đến năm cuối cùng và các sinh viên của bà đều vượt qua các kỳ thi tiếng Nga một cách dễ dàng. Có thể do không hợp với khí hậu ở vùng nhiệt đới cộng với khó khăn của thời kỳ chiến tranh và sinh hoạt đạm bạc, Lô-ra bắt đầu bị viêm phế quản nặng, nhưng bà vẫn kiên trì đi bộ từ ngõ Văn Chương đến trường, một ngày cả đi và về hơn tám cây số, kể cả khi trời mưa gió nhưng không bao giờ bà bỏ một buổi dạy nào. Ở trường cũng như ở nhà bà luôn dịu dàng và tận tình giúp đỡ các bạn đồng nghiệp cũng như hàng xóm. Có lẽ tình yêu đối với gia đình, con người và đất nước Việt Nam đã làm cho bà có sức chịu đựng phi thường và đứng vững trước những thử thách cam go.
Chia ly
Năm 1978, ông Huy dẫn một số cán bộ và sinh viên đi nghiên cứu tình hình thủy văn các tỉnh vùng Tây Nguyên. Sau đó ông được Trường Đại học thủy lợi bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm ĐH-1. Gia đình ông rời Hà Nội vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh; cũng còn một lý do khác nữa, bà Lô-ra bị viêm phế quản, trong khi khí hậu ở miền Bắc không ổn định, mùa đông và mùa hè nhiệt độ chênh lệch quá nhiều, làm cho bệnh của bà ngày càng nặng hơn, cả nhà chuyển vùng vào Nam với nhiều hy vọng mới.
Theo định hướng phát triển nhà trường, ông Huy cùng đồng nghiệp bắt đầu tổ chức xây dựng Trung tâm ĐH-1 từ chỗ chủ yếu làm nhiệm vụ quy hoạch, tư vấn, nghiên cứu khoa học dần dần trở thành cơ sở đào tạo và sau đó trở thành Cơ sở 2 Đại học Thuỷ lợi ngày nay.
Năm 1981, con gái lớn Tuyết Mai tạm biệt cha mẹ sang Liên Xô học khoa ngôn ngữ trường Đại học Ngoại ngữ Moris Thorez.
Mùa đông năm 1982, bà Lô-ra phải nằm bệnh viện, kết quả chuẩn đoán của bác sỹ cho thấy bà bị ung thư và buộc phải điều trị bằng nhiều giải pháp. Sau khi được phẫu thuật ở thành phố Hồ Chí Minh, các bác sỹ khuyên bà cần tiếp tục điều trị ở bệnh viện có điều kiện tốt hơn. Ông quyết định để bà sang Mat-xcơ-va điều trị. Trước ngày ra đi, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh mời ông Huy đến, sau khi hỏi thăm sức khoẻ của bà Lô-ra ông Chánh văn phòng đã trao cho ông Huy món quà 200 đô la Mỹ và nói rằng tuy chưa có tiền lệ về việc này, nhưng đây là sự quan tâm đặc biệt của thành phố đối với ông bà. Ngày đó số tiền đó là cả một gia tài, vì tiền lương hàng tháng của cán bộ, giảng viên quy đổi ra chỉ tương đương khoảng 10 đô la.
Nhờ có các phương pháp y học hiện đại và các giáo sư giỏi của Liên Xô ngày ấy, việc điều trị cho bà có tiến triển khá thuận lợi. Nhưng các bác sỹ khuyên bà không nên trở lại Việt Nam vì khí hậu nhiệt đới, tình trạng ô nhiễm sau chiến tranh ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và chứa đựng nhiều rủi ro. Nhiều người bạn cũng khuyên ông Huy nên ở lại để chăm sóc vợ. Một người bạn của ông nói: Tôi thấy chị ấy đã vì anh mà về Việt Nam một thời gian rất dài, chịu đựng biết bao gian khổ của thời chiến tranh, nay bị bệnh hiểm nghèo, anh nên ở lại cùng với chị ấy, để chị ấy yên tâm điều trị; với học hàm Phó giáo sư, anh có thể làm biên tập viên tại Nhà xuất bản “Mira” (nhà XB Thế giới của Liên Xô trước đây)” và việc này chúng tôi đã có bàn bạc rồi, kể cả việc anh có thể đưa cháu nhỏ đang còn ở nhà sang Liên Xô học tập. Đó là một ưu ái lớn của bạn bè và đất nước Xô Viết đối với ông và gia đình, nhưng bà Lô-ra không đồng ý. Bà vẫn muốn ông trở về nhà tiếp tục công việc và khi sức khoẻ tốt hơn bà sẽ lại trở về cùng ông. Có lẽ trong những năm tháng sống và làm việc tại Việt Nam, đất nước mà bà rất đỗi yêu quý này đã để lại trong bà những ấn tượng vô cùng sâu sắc. Đó là một quyết định đã gây “sốc” đối với nhiều người. Vì ngày ấy, nước ta còn quá nghèo, cả ngày xếp hàng để lo bữa ăn. Từ chiếc áo may ô, chiếc lốp xe đạp, đến mét vải, cân gạo, lạng thịt, quả trứng, hộp sữa... đều phải mua bằng tem phiếu, còn ở Liên Xô thời bấy giờ mọi thứ hàng hoá đều dồi dào và đối với nhiều người, kể cả người dân thuộc nhiều nước khác trên thế giới thì được sống và làm việc tại Mat-xcơ-va là điều lý tưởng và không ít người cho rằng đó là một thiên đường trên trái đất. Ngoài ra nơi đó còn là Tổ quốc của bà, nuôi dưỡng bà khôn lớn. Mặt khác theo lời cảnh báo của thầy thuốc thì việc trở về Việt Nam, đồng nghĩa với chấp nhận sự nguy hiểm đối với mạng sống của bà.
Mùa hè, ông Huy trở về thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục công việc quản lý đoàn ĐH-1 và các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học mà ông đang còn dang dở. Bốn tháng sau, vào một buổi sáng, ông ở nhà một mình đang cặm cụi với những bài toán về thủy văn, thủy lực, bỗng có tiếng động, ông nhìn ra thấy một phụ nữ ôm bó hoa rất to gần như trùm kín cả khuôn mặt, đó là Lô-ra. Thì ra bà bay từ Mat-xcơ-va về Việt Nam, trên chuyến bay transit qua Phnôm-pênh. Tại đó, bà đã chọn mua một bó hoa hồng trắng, thứ hoa mà ông yêu nhất, mang lên máy bay để kịp về mừng sinh nhật ông vào hôm đó, 17 tháng 10 năm 1983, ngày ông tròn 51 tuổi. Tuy bay gần 24 giờ và thời gian chờ đợi nhưng trên khuôn mặt của bà không hề lộ ra mệt mỏi, Lô-ra tươi cười, kể cho ông nhiều chuyện về bạn bè, về những ngày xa ông và cả những câu chuyện vui đầy hóm hỉnh.
Đúng như lời các bác sĩ đã cảnh báo, về nhà được vài tháng thì bệnh của bà lại tái phát, sức khoẻ suy giảm nhanh....Mùa xuân, mùa hạnh phúc nhất của mỗi gia đình, ông đưa bà sang lại Mat-xcơ-va và trở vào bệnh viện... Nhưng lần này thì các bác sĩ giỏi nhất cũng phải bó tay. Bà đề nghị ông đưa bà trở về Ô-đet-xa quê hương bà, thăm ngôi trường lần đầu tiên hai người gặp gỡ, ra bờ biển Đen, nơi hai người thường ngồi bên nhau ngắm hoàng hôn rơi dần vào biển cả. Những ngày cuối cùng bà luôn căn dặn Tuyết Mai khi học xong hãy trở về Việt Nam thay bà chăm sóc bố và em, hãy làm việc thật tốt để xứng đáng với sự quan tâm của đất nước. Sau này các con của bà một người trở thành tiến sỹ, một người là thạc sĩ, đều được mời làm việc ở nước ngoài với mức thu nhập cao nhưng các chị vẫn trở về đất nước cùng với cha theo nguyện vọng của mẹ.
Một tháng, sau ngày trở về quê hương Ucraina bà đã ra đi mãi mãi, khi đang ở độ tuổi 45.
Đối với ông Huy, Lô-ra đã ra đi, nhưng ý chí mạnh mẽ của bà, tình yêu của bà dành cho gia đình, cho đất nước và con người Việt Nam vẫn mãi mãi là chỗ dựa tinh thần lớn nhất đối với ông, giúp ông tăng thêm nghị lực và niềm tin để suốt đời cống hiến cho đất nước.
(Xem tiếp trang 2)
Số lượt đọc:
916
-
Cập nhật lần cuối:
27/12/2008 12:15:55 AM
Trao đổi/Nhận xét/Bình luận : | Tổng số:
1 |
dcao@worldbank.org Dear Miss Diep:
I read this article. I worked with his daughter in 1996-1997... World bank team leader should consult this Mr. Nguyen Sinh Huy , a good satisfaction, I believe.
Thinking back of my interpretation, I wish if the Managers/Directors at Mekong Delta provinces can give facts like the content of this article... So perfect to the WB experts' expectation...
Thank you for your kindness and your nice reception to me last days.
Take care Nguyen Thi Hoa
Ý kiến của bạn: | Đánh giá của bạn về nhân vật được giới thiệu: Tổng số:
16
Trung bình:
4.1 |